Không ít phân tích đã cho rằng hành động bán tháo của nhà đầu tư trên toàn thị trường ngày 8/5 là những phản ứng thái quá trước những bất ổn trên biển Đông. Hành động bán tháo được xem là không có lợi cho thị trường, cũng như cho chính danh mục của nhà đầu tư. Đây đó đã xuất hiện hàng loạt lời kêu gọi, trấn an, hô hào bắt đáy.
Quả thực những nhà đầu tư dũng cảm bắt đáy hôm 8/5 và đầu phiên ngày 9/5 cho đến thời điểm này đã có một kết quả tương đối khả quan. Thống kê với giá đóng cửa ngày 9/5 so với mức đóng cửa ngày 8/5, khoảng trên 200 cổ phiếu đã đạt lợi nhuận từ 3% trở lên. Với những nhà đầu tư bắt đáy được mức giá tốt nhất ngày 9/5, mức lợi nhuận có thể tới 10% với trên 40 mã.
Như vậy kết quả tính đến T+1 của nhiều nhà đầu tư là lạc quan.
Tuy nhiên hiệu quả thực tế đối với các giao dịch bắt đáy ngắn hạn là không giống nhau giữa các nhà đầu tư. Yếu tố hàng đầu quyết định kết quả cuối cùng đối với các giao dịch ngắn hạn vẫn là liệu lợi nhuận có còn đủ lớn sau ki kết thúc chu kỳ T+3 hay không. Nói đơn giản, liệu việc bắt đáy trong hai phiên cuối tuần, giá có còn tăng tiếp hay ít nhất là không giảm trong 2 phiên đầu tuần tới, để nhà đầu tư ngắn hạn có thể chốt lời hay không?
Các giao dịch bắt đáy mới, tức là mua mà không có sẵn cổ phiếu trong tài khoản, luôn đối diện với rủi ro T+3 trong mọi hoàn cảnh. Vì chịu hạn chế của chu kỳ thanh toán kéo dài 3 ngày, nên nhà đầu tư khi mua, phải chấp nhận rủi ro giá thay đổi trong thời gian cổ phiếu chưa về tài khoản.
Hoạt động bắt đáy sẽ có lợi thế hơn đối với những người đã có sẵn cổ phiếu, hoặc cổ phiếu đang trên đường về ngắn hơn T+3. Chẳng hạn nhà đầu tư đã có sẵn cổ phiếu A thì việc bắt đáy thêm một khối lượng nữa cổ phiếu A trong hai ngày qua có lợi thế khi sẵn sàng chốt lời ngay vào ngày hôm sau, khi rủi ro giảm giá trong ngắn hạn là thấp.
Chính vì những khả năng nắm giữ cổ phiếu khác nhau giữa các nhà đầu tư, nên hoạt động bắt đáy hay kêu gọi bắt đáy cần được nhìn nhận một cách thực tế. Người có cổ phiếu trong tài khoản có thể thực hiện bắt đáy khi biết chắc rằng rủi ro biến động giá trong 1-2 phiên tới có thể được khống chế bằng khối lượng có sẵn.
Ngược lại, người không có sẵn cổ phiếu nên nhìn nhận hoạt động bắt đáy như một sự chấp nhận rủi ro rất cao, vì trong trường hợp giá giảm, lợi nhuận có thể không như mong đợi, thậm chí là lỗ.
Đối nghịch với hành động bắt đáy, là hành động bán tháo ồ ạt trong tuần qua. Không thể phủ nhận việc bán tháo có phần hoảng loạn, khi nhà đầu tư sẵn sàng đặt giá sàn. Tuy nhiên cũng không thể chê trách hoạt động bán tháo như những phản ứng hỗn loạn của đám đông, mà thường được cọi bằng những từ “xách mé” như “bầy đàn”.
Với các nhà đầu tư có kỷ luật, phản ứng tức thì khi phải đối diện với những rủi ro không lường trước được và khi khoản lỗ vượt mức cho phép, họ phải bán cắt lỗ để ngăn chặn khả năng “chảy máu” thêm.
Hãy nhìn vào các con số thống kê. Chỉ tính từ cuối tuần trước đến cuối tuần này, HSX có gần 102 cổ phiếu lỗ từ 10% trở lên chỉ sau 5 phiên, HNX có 110 mã. Đây là mức giá đã tính đến độ phục hồi mạnh trong ngày cuối tuần. Nếu tính theo mức giá sụt giảm sâu ngày 8/5 thì số lượng và mức độ giảm còn lớn hơn nhiều.
Hàng trăm cổ phiếu đã lỗ lớn trong thời gian ngắn như vậy sẽ tạo ra một áp lực cắt lỗ để tự vệ rất lớn. Thông thường mức lỗ khoảng 10% sẽ là ngưỡng mà nhà đầu tư chuyên nghiệp phải cắt bỏ để hạn chế rủi ro đối với một khoản đầu tư. Đó là chưa kể đến số lớn nhà đầu tư khác dù chưa đạt mức lỗ nhiều như vậy cũng quyết định giảm tỷ lệ sở hữu cổ phiếu xuống để cân bằng danh mục. Thêm nữa là áp lực bán ra từ các công ty chứng khoán khi đòn bẩy tài chính của khách hàng có tiềm năng, hoặc thực tế là đã rơi vào tình trạng rủi ro.
Nếu như nhà đầu tư thực hiện bán ra để đảm bảo an toàn, hoặc giới hạn rủi ro cho chính đồng tiền của mình thì luôn luôn là đúng. Các giao dịch bán này rất có thể là quá muộn hay đúng đáy, nhưng là cần thiết trên quan điểm của người chủ sở hữu, không phải của nhà đầu tư đứng ngoài.
Quy mô giao dịch toàn thị trường 2 tuần vừa qua | |||
Ngày | Tổng giá trị khớp lệnh (tỉ đồng) | Tổng giá trị Nước ngoài mua (tỉ đồng) | Tổng giá trị Nước ngoài bán (tỉ đồng) |
23.4.2014 | 1.568,0 | 170,5 | 78,8 |
24.4.2014 | 1.186,4 | 95,5 | 64,6 |
25.4.2014 | 1.523,3 | 222,2 | 183,5 |
28.4.2014 | 1.322,9 | 134,8 | 127,1 |
29.4.2014 | 998,2 | 96,9 | 88,7 |
5.5.2014 | 1.813,8 | 131,4 | 113,4 |
6.5.2014 | 2.229,9 | 172,6 | 106,7 |
7.5.2014 | 1.011,6 | 114,3 | 61,9 |
8.5.2014 | 3.414,0 | 442,5 | 163,9 |
9.5.2014 | 2.216,9 | 291,8 | 156,1 |
Khối ngoại mua ròng qua khớp lệnh lên tới 550,5 tỷ đồng
Như trên đã phân tích, hoạt động bắt đáy ngắn hạn có thể phải hứng chịu mức độ rủi ro khác nhau đối với các nhà đầu tư không có sẵn cổ phiếu trong tài khoản. Tuy nhiên một phần không nhỏ trong khối lượng giao dịch hai ngày vừa qua cũng xuất phát từ các giao dịch dài hạn.
Đối với các mục đích mua đầu tư dài hạn, ngay cả khi nhà đầu tư không có sẵn cổ phiếu trong tài khoản thì mức rủi ro trong ngắn hạn cũng không quan trọng. Kể cả sau khi mua tuần này, giá có thể sụt giảm thêm trong ngắn hạn, nhưng trong dài hạn 3-6 tháng hoặc hơn, các giao dịch vẫn có thể đem lại lợi nhuận.
Giao dịch dài hạn được xem là lực đỡ tốt cho thị trường trong một chu kỳ giá xuống. Dòng tiền này không có nhiều tác dụng tạo sóng ngắn hạn, nhưng lại càng xuống giá càng mua mạnh, trong khi dòng vốn đầu cơ lại đứng ngoài.
Một trong những biểu hiện của đầu tư dài hạn là giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài. Dĩ nhiên cũng có các giao dịch ngắn hạn, nhưng phần lớn lượng mua của khối ngoại tuần qua đã lỗ trong ngắn hạn và khối này vẫn không dừng mua. Tổng giá trị mua ròng khớp lệnh trên hai sàn trong tuần lên tới 550,5 tỷ đồng.
Từ trung tuần tháng 4 trở lại đây, nhà đầu tư nước ngoài mua hàng trăm tỷ đồng mỗi tuần. Điều này tạo nên một nghịch lý giao dịch là khối ngoại mua suốt thời gian thị trường lao dốc. Từ ngày 14/4 đến ngày 9/5, VN-Index hình thành một nhịp điều chỉnh sâu khoảng 10%, thì cũng là 17 phiên mua ròng mạnh mẽ với mức vốn vào ròng là 1.164 tỷ đồng - chưa tính thỏa thuận.
Từ quan điểm ngắn hạn, rõ ràng là các giao dịch của khối ngoại không thể lý giải được vì đang ngày càng làm dày thêm mức lỗ. Trong khi các nhà đầu tư trong nước lần lượt cắt lỗ qua những thời điểm thị trường gãy các ngưỡng hỗ trợ, thì gần như khối ngoại không có biểu hiện tương tự. Các thức mua này chỉ có thể lý giải được từ quan điểm dài hạn.
10 cổ phiếu biến động tăng/giảm lớn nhất trên HSX trong tuần | |||||||
Mã CK | Giá đóng cửa ngày 29/4 | Giá đóng cửa ngày 9/5 | Mức giảm | Mã CK | Giá đóng cửa ngày 29/4 | Giá đóng cửa ngày 9/5 | Mức tăng |
PXM | 1 | 1,5 | -33,33 | TSC | 17,5 | 16,3 | 7,36 |
FPT | 46,3 | 68,5 | -32,41 | THG | 10,6 | 10 | 6 |
AVF | 4,3 | 5,8 | -25,86 | VHC | 32,8 | 31,7 | 3,47 |
FDG | 1,5 | 2 | -25 | ABT | 50 | 48,5 | 3,09 |
PTK | 3,9 | 5,1 | -23,53 | VTB | 11,8 | 11,5 | 2,61 |
CII | 21,1 | 27,3 | -22,71 | CTI | 12,4 | 12,1 | 2,48 |
DLG | 6,9 | 8,9 | -22,47 | TRC | 35,6 | 34,8 | 2,3 |
UDC | 5,3 | 6,8 | -22,06 | VPK | 25,5 | 25 | 2 |
ASM | 8,5 | 10,8 | -21,3 | CLW | 16,6 | 16,3 | 1,84 |
HLA | 2,6 | 3,3 | -21,21 | DSN | 56,5 | 55,5 | 1,8 |
10 cổ phiếu biến động tăng/giảm lớn nhất trên HNX trong tuần | |||||||
Mã CK | Giá đóng cửa ngày 29/4 | Giá đóng cửa ngày 9/5 | Mức giảm | Mã CK | Giá đóng cửa ngày 29/4 | Giá đóng cửa ngày 9/5 | Mức tăng |
QCC | 2,8 | 4,5 | -37,78 | PPE | 4,8 | 3,8 | 26,32 |
SVN | 6,2 | 9,9 | -37,37 | HTP | 7,8 | 6,5 | 20 |
HHL | 0,9 | 1,4 | -35,71 | SDY | 3,7 | 3,1 | 19,35 |
VHH | 2,3 | 3,5 | -34,29 | CAN | 32 | 27 | 18,52 |
NVC | 1,2 | 1,7 | -29,41 | LDP | 51,4 | 44,3 | 16,03 |
GGG | 1,5 | 2,1 | -28,57 | SKS | 11,2 | 9,9 | 13,13 |
VCV | 1,5 | 2,1 | -28,57 | VNT | 33 | 29,3 | 12,63 |
KTT | 3,2 | 4,4 | -27,27 | SPI | 5,5 | 4,9 | 12,24 |
DNP | 14,6 | 19,9 | -26,63 | DNC | 11 | 9,8 | 12,24 |
SHS | 7,4 | 10 | -26 | NIS | 9,5 | 8,6 | 10,47 |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét